Tên chính thức: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt NamDiện tích: 331.688 km2 (trên đất liền)
Thủ đô: Hà Nội
Dân số: 84,11 triệu (ước tính năm 2006)
Múi giờ: GMT + 7 hours
Thành phố lớn: Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hạ Long, Cần Thơ, Huế, Nha Trang, Đà Lạt.
VỊ TRÍ
Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S chạy dọc theo rìa đông của bán đảo Đông Dương. Đường biên giới trên đất liền dài 3.818km, phía bắc giáp Trung Quốc (1.281km), phía tây giáp Lào (1.555km) và Campuchia (982km). Phía đông Việt Nam là đường bờ biển dài 3.260 km nhìn ra biển Đông thuộc Thái Bình Dương. Trên đất liền, từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1.650km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600km (từ Quảng Ninh đến Điện Biên) và nơi hẹp nhất 50km (Quảng Bình). Tổng diện tích trên đất liền là 331.688 km2 , ngoài ra Việt Nam còn có trên 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ, có vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được Chính phủ Việt Nam (hiện nay) xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu km²). Trên biển Đông có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam đã khẳng định chủ quyền.
Các cực của Việt Nam (trên đất liền):
- Điểm cực Bắc: Cột cờ Lũng Cú, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, tọa độ N 23°23' - E 105°20'.
- Điểm cực Nam: Mũi Cà Mau, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, tọa độ N 8°37’ – E 104°43'.
- Điểm cực Tây: Cột mốc số 0, A Pa Chải, xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, tọa độ N 22°24' – E 102°08'.
- Điểm cực Đông: Mũi Đôi, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, tọa độ E 109027' - N 12038'.
KHÍ HẬU
Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng vành đại nội chí tuyến của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo. Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam có một nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình năm từ 22ºC đến 27ºC. Hàng năm, có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000mm. Độ ẩm không khí trên dưới 80%. Số giờ nắng khoảng 1.500 - 2.000 giờ, nhiệt bức xạ trung bình năm 100kcal/cm².
Chế độ gió mùa cũng làm cho tính chất nhiệt đới ẩm của thiên nhiên Việt Nam thay đổi. Nhìn chung, khí hậu Việt Nam chia thành 2 khu vực: phía bắc dãy núi Bạch Mã (ranh giới giữa Đà Nẵng & Thừa Thiên – Huế) có 2 mùa trong năm là mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10 (mùa mưa) và mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (lạnh, ít mưa), nhiệt độ lạnh nhất trong năm vào tháng 1 tại Hà Nội là 1606; phía nam dãy núi Bạch Mã có 2 mùa trong năm là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ nóng nhất trong năm vào tháng 4 tại Tp. Hồ Chí Minh là 290C.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của hướng núi, đôi lúc song song hay vuông góc với hướng gió mùa đã làm phân bố lại lượng mưa và mức độ ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc lạnh. Độ cao của địa hình miền núi đã tạo các vành đai á nhiệt đới và ôn đới trên cao càng tạo sự đa dạng của khí hậu và hấp dẫn du khách đến Việt Nam.
ĐỊA HÌNH
Lãnh thổ Việt Nam bao gồm 3/4 diện tích là đồi núi nhưng chủ yếu là đồi núi thấp, và 1/4 diện tích là đồng bằng bao gồm đồng bằng châu thổ và đồng bằng duyên hải.
Vùng núi
Vùng núi Đông Bắc
Kéo dài từ thung lũng sông Hồng đến vịnh Bắc Bộ. Núi ở đây bao gồm khối Việt Bắc (cao nguyên Bắc Hà, khối núi Sông Chảy, cao nguyên Đồng Văn) và hệ thống các dãy núi cánh cung ôm lấy khối Việt Bắc (dãy Sông Gâm, dãy Ngân Sơn, dãy Bắc Sơn, dãy Đông Triều). Duyên hải Đông Bắc nhìn ra vịnh Bắc Bộ với có hơn 2000 đảo lớn nhỏ, trong đó có 1.030 đảo có tên, còn lại hơn một nghìn hòn đảo chưa có tên, chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078 đảo /2779 đảo). Danh thắng tiêu biểu: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Đồng Văn, hồ Ba Bể, thung lũng Lạng Sơn, vịnh Hạ Long,…
Vùng núi Tây Bắc
Kéo dài từ thung lũng sông Hồng đến biên giới Việt – Lào và vùng núi phía tây tỉnh Thanh Hoá. Hệ thống núi ở đây chạy theo hướng tây bắc – đông nam bao gồm: dãy Hoàng Liên Sơn, hệ thống cao nguyên bậc thang Tây Bắc và vùng núi thượng nguồn sông Mã. Danh thắng tiêu biểu: Sa Pa, đỉnh Fansipan 3.143m – nóc nhà của Đông Dương, thung lũng Điện Biên Phủ, Mai Châu,…
Vùng núi Trường Sơn Bắc
Từ phía tây tỉnh Thanh Hóa đến dãy núi Bạch Mã, đây là dãy núi bao gồm nhiều dãy và khối núi chạy dọc theo biên giới Việt – Lào: dãy Pu Lai Leng – Rảo Cỏ, khối núi đá vôi Kẻ Bàng - Khe Ngang – vùng núi phía tây Quảng Trị - Thừa Thiên. Danh thắng tiêu biểu: động Phong Nha, và đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh.
Vùng núi Trường Sơn Nam
Nằm ở phía nam của dãy Bạch Mã kéo dài đến đồng bằng Nam Bộ, bao gồm hệ thống cao nguyên phía tây (Tây Nguyên) và dãy núi hình cánh cung khổng lồ ôm lấy rìa phía đông của cao nguyên. Danh thắng tiêu biểu: thành phố Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Pleiku – Kontum, hệ thống đường Hồ CHí Minh,…
Đồng bằng
Đồng bằng châu thổ sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ)
Rộng khoảng 15.000km² được bồi đắp bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình. Đây là địa bàn cư trú của người Việt cổ và cũng là nơi hình thành nền văn minh lúa nước. Danh thắng tiêu biểu: Hà Nội, làng quê Bắc Bộ, Hải Phòng – Đồ Sơn,…
Đồng bằng Nam Bộ
Rộng trên 60.000km², bao gồm đồng bằng Đông Nam Bộ và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long. Đây là vùng đất phì nhiêu, khí hậu thuận lợi, là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam. Danh thắng tiêu biểu: Tp. Hồ Chí Minh, địa đạo Củ Chi, miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long, đảo Côn Đảo, đảo Phú Quốc,…
Đồng bằng duyên hải miền Trung
Bao gồm một chuổi đồng bằng duyên hải nhỏ hẹp từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Các đồng bằng này mang hương vị của biển bởi những cồn cát bạt ngàn, những bãi biển cát trắng, những đầm phá đầy hải sản và những vịnh biển kín đáo được che chắn bởi nhiều đảo ven bờ. Nằm giữa biển Đông, Hoàng Sa (huyện đảo thuộc Đà Nẵng) và Trường Sa (huyện đảo thuộc Khánh Hòa) là 2 quần đảo giàu tài nguyên thuộc chủ quyền Việt Nam. Danh thắng tiêu biểu: cồn cát Mũi Né, vịnh Nha Trang, thành phố Đà Nẵng, cố đô Huế, chiến trường xưa Quảng Trị, khu di tích Kim Liên tại Nam Đàn,…
TÀI NGUYÊN
Sinh vật
Rừng của Việt Nam có nhiều loại cây gỗ quý như: đinh, lim, sến, táu, cẩm lai, gụ, trắc, pơ mu... Tính chung, các loài thực vật bậc cao có tới 12.000 loài. Cây dược liệu có tới 1.500 loài. Lâm sản khác có nấm hương, nấm linh chi, mộc nhĩ, mật ong... Về động vật, ước tính ở Việt Nam có 1.000 loài chim, 300 loài thú, 300 loài bò sát và ếch nhái, chưa kể các loài côn trùng. Ngoài những loài động vật thường gặp như hươu, nai, sơn dương, gấu, khỉ... còn có những loài quý hiếm như tê giác, hổ, voi, bò rừng, sao la, công, trĩ, gà lôi đỏ...
Rừng của Việt Nam hiện đang bị thu hẹp diện tích, số liệu diện tích phủ rừng thay đổi theo năm như sau: 43% (1945), 38% (1975), 28% (1995) và 32,2% (2001). Nhiều loài thực vật, động vật quý hiếm đang bị khai thác, săn bắn lén nên gỗ và chim thú ngày càng cạn kiệt, nhiều loài thú quý đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Phấn đấu đến năm 2010, diện tích che phủ rừng tại Việt Nam lên đến 43% và đây cũng được coi là một trong những nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam áp dụng nhiều biện pháp, trong đó đã thành lập 32 vườn quốc gia, nhiều khu bảo tồn thiên nhiên và khu bảo vệ cảnh quan. Đây cũng là những điểm tham quan lý thú và bổ ích của du khách.
Danh sách vườn quốc gia tại Việt Nam hiện nay (2008):
Miền Bắc
- Ba Bể: tại Ba Bể - Bắc Cạn, diện tích 23.340ha, cách Hà Nội 240km.
- Ba Vì: tại Ba Vì – Hà Tây, diện tích 22.119ha, cách Hà Nội 48km.
- Bái Tử Long: tại Vân Đồn – Quảng Ninh, diện tích 15.783ha, cách thị trấn Vân Đồn 20 hải lý.
- Cát Bà: tại đảo Cát Bà - Hải Phòng, diện tích 15.200ha, cách Hải Phòng 50km.
- Cúc Phương: tại Nho Quan - Ninh Bình, diện tích 22.200ha, cách hà Nội 120km.
- Đền Hùng: tại Phong Xhâu – Phú Thọ, diện tích 538ha, cách Hà Nội 90km.
- Hoàng Liên: tại Sapa - Lào Cai, diện tích 22.281ha, cách Sapa 15km.
- Tam Đảo: tại Tam Đảo - Vĩnh Phúc, diện tích 36.883ha, cách Hà Nội 70km.
- Xuân Thủy: tại Giao Thủy - Nam Định, diện tích 7.100ha.
- Xuân Sơn: tại Thanh Sơn - Phú Thọ, diện tích 34.733ha, cách Hà Nội 115km.
Miền Trung
- Bạch Mã: tại Phú Lộc – Thừa Thiên Huế, diện tích 22.031ha, cách Huế 44km.
- Bến En: tại Như Xuân, Thanh Xuân – Thanh Hóa, diện tích 47.634ha, cách thành phó Thanh Hóa 45km.
- Bi Doup – Núi Bà: tại Lạc Dương – Lâm Đồng, diện tích 59.034ha, cách Đà Lạt 15km.
- Chư Mom Rây: tại Sa Thầy, Ngọc Hồi – Kontum, diện tích 56.620ha, cách thị xã Kontum 30km.
- Chư Yang Sin: tại Krong Bông – Daklak, diện tích 58.947ha, cách Buôn Ma Thuột 35km.
- Kon Ka Kinh: tại Kbang – Gia Lai, diện tích 23.064ha.
- Ngọc Linh: tại Dak Glei – Kontum, diện tích 41.420ha, cách thị trấn Dak Glei 24km.
- Núi Chúa: tại Ninh Hải – Ninh Thuận, diện tích 29.865ha. Cách Phan Rang – Tháp Chàm 40km.
- Phong Nha – Kẻ Bàng: tại Bố Trạch – Quảng Bình, diện tích 85.754ha, cách Đồng Hới 50km.
- Pù Mát: tại Con Cuông – Nghệ An, diện tích 91.113ha, cách thành phố Vinh 120km.
- Phước Bình tại Bác Ái – Ninh Thuận, diện tích 19.814ha, cách Phan Rang 100km
- Yokdon: tại Ea Sup – Daklak, diện tích 115.545ha. Cách Buôn Ma Thuột 42km.
- Vũ Quang: tại Vũ Quang - Hà Tĩnh, diện tích 55.028ha, cách thành phố Hà Tĩnh 50km.
Miền Nam
- Bù Gia Mập: tại Bình Phước, diện tích 26.032ha.
- Cát Tiên: tại Tân Phú – Đồng Nai, diện tích 73.878ha, cách Tp. HCM 150km.
- Côn Đảo: tại đảo Côn Đảo – Bà Rịa Vũng Tàu, diện tích 40.498ha, cách Vũng Tàu 97 hải lý.
- Lò Gò – Xa Mát: tại Tân Biên – Tây Ninh, diện tích 18.765ha, cách Tây Ninh 45km.
- Mũi Cà Mau tại Năm Căn – Cà Mau, diện tích 41.862ha. Cách thành phố Cà Mau 120km.
- Phú Quốc: tại đảo Phú Quốc – Kiên Giang, diện tích 31.422ha, cách thị trấn Dương Đông 30km.
- Tràm Chim: tại Tam Nông – Đồng Tháp, diện tích 7.588ha, cách Cao Lãnh 40km.
- U Minh Thượng: tại An Biên – Cà Mau, diện tích 21.800ha, cách Rạch Giá 70km.
- U Minh Hạ: tại U Minh – Cà Mau, diện tích 8.286ha.
Tài nguyên thuỷ hải sản
Diện tích mặt nước kể cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn là nguồn tài nguyên phong phú về tôm, cá... trong đó có rất nhiều loài quý hiếm. Chỉ tính riêng ở biển đã có 6.845 loài động vật, trong đó có 2.038 loài cá, 300 loài cua, 300 loài trai ốc, 75 loài tôm, 7 loài mực, 653 loài rong biển... Nhiều loài cá thịt ngon, giá trị dinh dưỡng cao như cá chim, cá thu, mực... Có những loài thân mềm ngon và quý như hải sâm, sò, sò huyết, trai ngọc... Nhiều loại hải sản đã trở thành các đặc sản biển nổi tiếng như: hàu Long Sơn (Vũng Tàu), mực một nắng Mũi Né (Bình Thuận), tôm hùm Nha Trang (Khánh Hòa), mắt cá ngừ đại dương Phú Yên, rắn biển Đồng Hới (Quảng Bình),…
Tài nguyên khoáng sản
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng: than (trữ lượng dự báo khoảng trên 6 tỉ tấn); dầu khí (ước trữ lượng dầu mỏ khoảng 3-4 tỷ thùng và khí đốt khoảng 50-70 tỷ mét khối); U-ra-nium (trữ lượng dự báo khoảng 200-300 nghìn tấn); kim loại đen (sắt, măng gan, titan); kim loại màu (nhôm, đồng, vàng, thiếc, chì...); khoáng sản phi kim loại (apatit, pyrit...); vật liệu xây dựng (đá hoa cương, đá vôi, đá hoa,…).
PHONG TỤC – LỄ HỘI
Phong tục tập quán là những thói quen được đưa vào nếp sống hằng ngày. Mỗi dân tộc đều có những thói quen cá biệt lúc ban đầu; về sau, do sự tiếp xúc với nhau nên có những sự ảnh hưởng, bắt chước và có những cái giống nhau. Người Việt vốn thiết thực, chuộng ăn chắc mặc bền. Đầu tiên là ăn, có thực mới vực được đạo, trời đánh còn tránh bữa ăn. Cơ cấu ăn thiên về thực vật, cơm rau là chính cộng thêm thuỷ sản. Luộc là cách nấu ăn đặc sắc của Việt Nam. Nhưng cách thức chế biến món ăn lại giàu tính tổng hợp, kết hợp nhiều chất liệu và gia vị. Người Việt hay dùng các chất liệu vải có nguồn gốc thực vật, mỏng, nhẹ, thoáng, phù hợp xứ nóng, với các sắc màu nâu, chàm, đen. Trang phục nam giới phát triển từ đóng khố ở trần đến áo cánh, quần ta (quần Tàu cải biến). Nữ giới xưa phổ biến mặc yếm, váy, áo tứ thân sau này đổi thành chiếc áo dài hiện đại. Nói chung, phụ nữ Việt Nam làm đẹp một cách tế nhị, kín đáo trong một xã hội "cái nết đánh chết cái đẹp". Trang phục cũ cũng chú ý đến khăn, nón, thắt lưng. Ngôi nhà Việt Nam xưa gắn liền với môi trường sông nước (nhà sàn, mái cong). Sau đó là nhà tranh vách đất, lợp rạ, vật liệu chủ yếu là tre gỗ, không cao quá để chống gió bão, quan trọng nhất là hướng nhà thường quay về phía Nam chống nóng, tránh rét. Nhà cũng không rộng quá để nhường diện tích cho sân, ao, vườn cây. Vả lại, người Việt Nam quan niệm "rộng nhà không bằng rộng bụng". Các kiến trúc cổ bề thế thường ẩn mình và hoà với thiên nhiên. Phương tiện đi lại cổ truyền chủ yếu là đường thuỷ. Con thuyền các loại là hình ảnh thân quen của cảnh quan địa lý-nhân văn Việt Nam, cùng với dòng sông, bến nước.
Các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội của Việt Nam đều gắn với tính cộng đồng làng xã. Hôn nhân xưa không chỉ là nhu cầu đôi lứa mà còn phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc, gia đình, làng xã, nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều lễ từ giạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu đến tơ hồng, hợp cẩn, lại mặt, và phải nộp cheo để chính thức được thừa nhận là thành viên của làng xóm. Tục lễ tang cũng rất tỉ mỉ, thể hiện thương xót và tiễn đưa người thân qua bên kia thế giới, không chỉ do gia đình lo mà hàng xóm láng giềng tận tình giúp đỡ.
Việt Nam là đất nước của lễ hội quanh năm, nhất là vào mùa xuân, nông nhàn. Các tết chính là tết Nguyên đán, tết Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ, tết Rằm tháng Bảy, tết Trung thu, tết Ông táo... Mỗi vùng thường có lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hội nông nghiệp (cầu mưa, xuống đồng, cơm mới...), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng, rèn, pháo, đua ghe...). Ngoài ra là các lễ hội kỉ niệm các bậc anh hùng có công với nước, các lễ hội tôn giáo và văn hoá (hội chùa). Lễ hội có 2 phần: phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn, phần hội là sinh hoạt văn hoá cộng đồng gồm nhiều trò chơi, cuộc thi dân gian.
DÂN TỘC
Việt Nam có 54 dân tộc. Dân tộc đông nhất là dân tộc Việt, chiếm 87% dân số. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày (1.190.000), Thái (1.040.000), Mường (914.000), Hoa (900.000), Khmer (895.000), Nùng (706.000), Hmông (558.000), Dao (474.000), Giarai (242.000), Êđê (195.000). Những dân tộc còn lại có dân số dưới 100.000 người, một nửa trong số đó có dân số dưới 10.000 người. Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ đu và Rơ Măm chỉ có khoảng vài trăm người.
Căn cứ vào ngữ hệ, dân tộc Việt Nam được chia thành các nhóm:
- Nhóm Việt-Mường: Chứt, Mường, Thổ, Việt.
- Nhóm Tày – Thái: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Cahy, Tày, Thái.
- Nhóm Môn – Khmer: Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ-ro, Co, K’ho, K’tu, Giẻ - Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, Mảng, M’nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà Ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng.
- Nhóm Mông – Dao: Dao, Mông, Pà Thẻn.
- Nhóm Kadai: Cờ lao, La-chí, La-ha, Pu péo.
- Nhóm Mã Lai – Đa Đảo: Chăm, Chu-ru, Ê-đê, Gia-rai, Ra-glei.
- Nhóm Hán: Hoa, Ngái, Sán dìu.
- Nhóm Tạng: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô lô, Phù Lá, Si La.
Tin mới hơn:
- Thành phố Hồ Chí Minh (26/10/2009 00:00)
Tin cũ hơn:
- Thủ đô Hà Nội (24/10/2009 11:17)
- Hạ Long (24/10/2009 11:16)
- Sa Pa (24/10/2009 11:16)
- Huế (24/10/2009 11:15)
- Đà Nẵng (24/10/2009 11:14)
Điểm đến - Du lịch
| Thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 0,6% diện tích và 6,6 % dân số so với cả nước, nằm trong vùng kinh tế trọng [...] |
| Các địa danh khác |
Truy cập Team Building
Hiện có 9 khách Trực tuyến



